-
-
-
Tổng tiền thanh toán:
-
Đầu nối Inox 304 dạng chữ T có 3 đầu siết ống 10, mã PEISO-10, model PEISO-10, dùng để nối ba ống cùng đường kính ngoài 10 mm theo cơ chế siết ống. Nội dung này tập trung vào chia nhánh gần van; các số liệu không nhất quán trên nội dung cũ không được lặp lại.
chia nhánh gần van. gần cụm van hoặc bộ xử lý khí khi ba đường ống 10 mm cần tách theo hai hướng. cấp chung cho hai van đặt cạnh nhau trong khi nhánh còn lại tiếp tục đi sang mô-đun kế tiếp.
đo đường kính ngoài 10 mm ở đoạn ống không bị bóp méo; đầu nối này không có ren nên không dùng cỡ ren của van để quyết định
| Điểm đo | Kết quả cần có | Cách xử lý |
|---|---|---|
| Nhánh trái | 10 mm đường kính ngoài | Đo trên đoạn tròn, không móp |
| Nhánh giữa | 10 mm đường kính ngoài | Không suy từ cỡ của nhánh bên |
| Nhánh phải | 10 mm đường kính ngoài | Loại bỏ ống xước ở vùng kẹp |
đặt khoảng ống thẳng ngắn trước miệng siết, xoay thân T để thao tác cờ lê không va thân van và không tạo mô-men lên cổng ren của thiết bị
gá van chắc chắn, bố trí thân T độc lập, lắp nhánh tiếp tục tuyến trước rồi hoàn thiện hai nhánh vào van để dễ cân chỉnh
xà phòng hóa từng miệng trong hai trạng thái van đóng và chuyển mạch; rung nhẹ đoạn ống bằng tay để tìm vị trí lắp căng
cỡ 10 gọn hơn 12 nhưng vẫn khác rõ cỡ 8; không ép ống 8 vào đầu 10 và không dùng ống 12 với kỳ vọng siết chặt sẽ kín
| Cỡ đối chiếu | Khác với cỡ 10 | Khi cân nhắc |
|---|---|---|
| 12 mm | Ống lớn hơn, cần thêm khoảng uốn | Chỉ khi cả ba ống thực tế là 12 mm |
| 8 mm | Ống nhỏ hơn, bố trí gọn hơn | Chỉ khi cả ba ống thực tế là 8 mm |
| 14 mm | Ống lớn hơn, cần thêm khoảng uốn | Chỉ khi cả ba ống thực tế là 14 mm |
| 6 mm | Ống nhỏ hơn, bố trí gọn hơn | Chỉ khi cả ba ống thực tế là 6 mm |
đặt thân T như tay đòn lên van, cắt ống quá ngắn, hoặc quên tính khoảng tháo đai ốc khi thay van
quan sát dấu xoay thân T và độ căng ống sau các lần thay van; chỉnh lại chiều dài ống nếu đầu nối bị kéo lệch
nếu cần bắt trực tiếp vào cổng ren, nên chọn chữ T có ren phù hợp thay vì thêm đoạn ống ngắn không cần thiết. Cổng van không được dùng làm giá đỡ cho thân chữ T.
PEISO-10 chỉ phù hợp sau khi đã xác nhận 10 mm trên cả ba nhánh. cấp chung cho hai van đặt cạnh nhau trong khi nhánh còn lại tiếp tục đi sang mô-đun kế tiếp. Trường hợp không đáp ứng, dừng lựa chọn cỡ này và đối chiếu giải pháp khác.
Đặt ranh giới tải lên cụm van không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: gần cụm van hoặc bộ xử lý khí khi ba đường ống 10 mm cần tách theo hai hướng. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Phân biệt chức năng ba nhánh không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: đặt khoảng ống thẳng ngắn trước miệng siết, xoay thân T để thao tác cờ lê không va thân van và không tạo mô-men lên cổng ren của thiết bị. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Giữ cổng thiết bị không chịu lực không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: đo đường kính ngoài 10 mm ở đoạn ống không bị bóp méo; đầu nối này không có ren nên không dùng cỡ ren của van để quyết định. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Thử khi van chuyển trạng thái không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: gá van chắc chắn, bố trí thân T độc lập, lắp nhánh tiếp tục tuyến trước rồi hoàn thiện hai nhánh vào van để dễ cân chỉnh. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Thay van mà không phá tuyến chính không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: xà phòng hóa từng miệng trong hai trạng thái van đóng và chuyển mạch; rung nhẹ đoạn ống bằng tay để tìm vị trí lắp căng. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Dấu hiệu cần đổi vị trí chữ T không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: quan sát dấu xoay thân T và độ căng ống sau các lần thay van; chỉnh lại chiều dài ống nếu đầu nối bị kéo lệch. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Chừa khóa thao tác cho cờ lê không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: đặt khoảng ống thẳng ngắn trước miệng siết, xoay thân T để thao tác cờ lê không va thân van và không tạo mô-men lên cổng ren của thiết bị. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Tách đường cấp và đường ra không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: cỡ 10 gọn hơn 12 nhưng vẫn khác rõ cỡ 8; không ép ống 8 vào đầu 10 và không dùng ống 12 với kỳ vọng siết chặt sẽ kín. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Quan sát xung khi đảo chiều không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: cấp chung cho hai van đặt cạnh nhau trong khi nhánh còn lại tiếp tục đi sang mô-đun kế tiếp. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Không dùng ống ngắn làm tay đòn không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: xà phòng hóa từng miệng trong hai trạng thái van đóng và chuyển mạch; rung nhẹ đoạn ống bằng tay để tìm vị trí lắp căng. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Định vị nhánh đi tiếp mô-đun không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: đặt khoảng ống thẳng ngắn trước miệng siết, xoay thân T để thao tác cờ lê không va thân van và không tạo mô-men lên cổng ren của thiết bị. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Bố trí van thay thế thử nghiệm không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: đo đường kính ngoài 10 mm ở đoạn ống không bị bóp méo; đầu nối này không có ren nên không dùng cỡ ren của van để quyết định. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Ghi lại trạng thái khi xuất hiện rò không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: quan sát dấu xoay thân T và độ căng ống sau các lần thay van; chỉnh lại chiều dài ống nếu đầu nối bị kéo lệch. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Kiểm tra sau lần bảo trì van không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: nếu cần bắt trực tiếp vào cổng ren, nên chọn chữ T có ren phù hợp thay vì thêm đoạn ống ngắn không cần thiết. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Cân bằng chiều dài hai nhánh vào van không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: gần cụm van hoặc bộ xử lý khí khi ba đường ống 10 mm cần tách theo hai hướng. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Theo dõi phản lực khi chuyển mạch không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: đo đường kính ngoài 10 mm ở đoạn ống không bị bóp méo; đầu nối này không có ren nên không dùng cỡ ren của van để quyết định. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Giữ đầu nối ngoài vùng tháo cuộn coil không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: xà phòng hóa từng miệng trong hai trạng thái van đóng và chuyển mạch; rung nhẹ đoạn ống bằng tay để tìm vị trí lắp căng. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Đặt kẹp trước đoạn đổi hướng không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: gá van chắc chắn, bố trí thân T độc lập, lắp nhánh tiếp tục tuyến trước rồi hoàn thiện hai nhánh vào van để dễ cân chỉnh. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Tạo mốc so sánh sau thay thiết bị không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: đặt khoảng ống thẳng ngắn trước miệng siết, xoay thân T để thao tác cờ lê không va thân van và không tạo mô-men lên cổng ren của thiết bị. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
Kiểm tra tải lên đế van không được làm tăng mô-men lên cổng van. Căn cứ thực tế là: quan sát dấu xoay thân T và độ căng ống sau các lần thay van; chỉnh lại chiều dài ống nếu đầu nối bị kéo lệch. Kỹ thuật viên nên giữ thân T trên giá độc lập, để mỗi đoạn ống dẫn lực về kẹp của nó. Khi thay van, tuyến còn lại phải giữ nguyên hình học và không xoay theo thiết bị vừa tháo.
cấp chung cho hai van đặt cạnh nhau trong khi nhánh còn lại tiếp tục đi sang mô-đun kế tiếp. nếu cần bắt trực tiếp vào cổng ren, nên chọn chữ T có ren phù hợp thay vì thêm đoạn ống ngắn không cần thiết