-
-
-
Tổng tiền thanh toán:
-
Đầu nối Inox 304 dạng chữ T có 3 đầu khóa ốc hạt bắp ống dẫn phi 12, mã hàng PEISHB-12, phù hợp nhất khi cần phân phối trong cụm máy công nghiệp. Ba cửa cùng cỡ giúp chia cụm máy mà không tạo bước chuyển đường kính ngay tại thân chữ T. Quyết định chọn phải bắt đầu từ đường kính ngoài của cả ba đoạn ống dẫn, không dựa vào đường kính trong hay ước lượng bằng mắt.
Với cấu hình phi 12, câu hỏi trọng tâm không chỉ là “có lắp vừa hay không” mà là ba hướng chia sẽ phục vụ nhiệm vụ nào. cân bằng chiều dài ba hướng chia để việc đối chiếu thuận tiện. Nếu một hướng chia thực tế cần cỡ khác, đầu T đều không phải lựa chọn tối ưu; khi đó nên xem nhóm T giảm thay vì chèn nhiều tầng chuyển cỡ.
Cỡ 12 mm nên được xác nhận bằng thước đo trên mặt ngoài ống dẫn tại vùng không bị méo. Đo thêm một vị trí cách đầu cắt để loại trừ sai số do bẹp miệng. Cả ba kết quả phải phù hợp với phi 12; chỉ một hướng chia khác cỡ cũng đủ làm phương án lắp sai về cấu hình.
Tại vị trí phân phối trong cụm máy công nghiệp, thân chữ T cần được đặt sao cho ống dẫn đi vào từng cửa theo đường tâm. cân bằng chiều dài ba hướng chia để việc đối chiếu thuận tiện. Cách bố trí này hạn chế lực ngang truyền vào vùng hạt bắp, đặc biệt khi ống dẫn dài, có khối lượng hoặc bị kéo bởi bó dây bên cạnh.
Vật liệu được công bố là Inox 304; cụm giữ ống dẫn gồm thân, ốc khóa ốc và hạt bắp. Cỡ phi biểu thị đường kính ngoài của ống dẫn tương ứng. Nguồn bán hàng xác nhận nhóm dùng với ống dẫn PU, PE, PA và đồng thời mô tả ứng dụng nối ống dẫn Inox, ống dẫn đồng; người mua cần xác nhận đúng loại ống dẫn thực tế trước khi đặt.
Trước khi lắp, tháo rời và sắp đúng thứ tự ốc khóa ốc, hạt bắp, rồi mới đưa ống dẫn vào thân. Đầu ống dẫn phải sạch, tròn và cắt vuông. Đưa ống dẫn theo phương thẳng, giữ ổn định trong khi bắt ren ốc bằng tay; nếu ốc không vào ren nhẹ nhàng, dừng lại để đối chiếu lệch ren thay vì dùng dụng cụ cưỡng bức.
| Tiêu chí | Phi 12 | Cỡ gần nhất |
| Đường kính ngoài ống dẫn cần đối chiếu | 12 mm | phi 10 và phi 14 |
| Khi nên chọn | Ba hướng chia cùng dùng ống dẫn 12 mm và bố trí cho phép tiếp cận ba ốc | Khi thiết kế thực tế dùng phi 10 và phi 14 hoặc cần thay đổi mức phân phối |
| Khi không nên chọn | Có hướng chia khác cỡ, đầu ống dẫn méo hoặc vị trí không đủ khoảng thao tác | Không đổi cỡ chỉ để “dễ mua” nếu ống dẫn đang dùng vẫn là phi 12 |
| Điểm đối chiếu | Độ thẳng của ba đầu ống dẫn và khả năng đặt điểm đỡ | Ảnh hưởng của việc đổi cỡ lên toàn cụm máy |
So với phi 10 và phi 14, phi 12 không mặc nhiên tốt hơn. Cỡ đúng là cỡ trùng với đường kính ngoài ống dẫn và phù hợp bố trí đã thiết kế. Không nên đổi ống dẫn chỉ để tận dụng một đầu nối có sẵn, vì việc đó làm phát sinh thêm chi tiết chuyển tiếp và thay đổi cách đi cụm máy.
Thử kín nên tiến hành từng hướng chia để dễ khoanh vùng. Giữ hai hướng chia ổn định, đối chiếu hướng chia còn lại ở điều kiện vận hành do đơn vị sử dụng quy định; sau đó đổi vị trí. Quan sát quanh vùng ốc và thân, đồng thời xem ống dẫn có trượt, xoay hoặc lệch tâm hay không. Không đưa ra kết luận chỉ từ việc khóa ốc thêm ốc.
Nếu có dấu hiệu rò, cô lập hệ thống dẫn và xả trạng thái tích trữ theo quy trình an toàn tại nơi lắp. Tháo đúng hướng chia, đối chiếu đầu cắt, bề mặt ống dẫn, hạt bắp, ốc và ren thân. Chi tiết móp, nứt, trờn ren hoặc biến dạng cần được thay đúng cỡ; không mài, chèn hoặc quấn vật lạ vào vùng kẹp ống dẫn để che lỗi.
Trong bảo trì phi 12, ghi lại hướng chia từng tháo và tình trạng hạt bắp. Khi thay ống dẫn, đo lại đường kính ngoài thay vì mặc định cuộn mới giống dẫn cuộn cũ. Nếu công việc thường xuyên cần tháo hướng chia, hãy bố trí chiều dài ống dẫn dự phòng hợp lý để không phải kéo thân chữ T hoặc bẻ gập ống dẫn mỗi lần thao tác.
Phải đo đường kính ngoài trên cả ba hướng chia. Nếu chỉ hai hướng chia là 12 mm, hãy chuyển sang phương án T giảm phù hợp thay vì ép hướng chia còn lại vào cùng bộ khóa ốc.
Cần đối chiếu bằng bố trí thực, tính cả bán kính uốn của ống dẫn và hành trình dụng cụ. Khoảng trống dẫn nhìn thấy chưa chắc đủ để tháo lắp sau này.
Không chọn khi một hướng chia khác cỡ, ống dẫn không thuộc loại đã được người bán xác nhận, đầu ống dẫn biến dạng, hoặc cụm T sẽ phải gánh tải cơ học từ đường ống dẫn. Với môi chất và điều kiện đặc biệt, cần xác nhận lại khả năng tương thích trước khi mua.
Với cụm máy dùng phi 12, có thể chia khu vực thành nguồn vào, hướng chia vận hành liên tục và hướng chia phục vụ theo chu kỳ. Cách đặt tên này giúp thử từng hướng chia mà không nhầm chức năng.
Đường ống dẫn đi qua nhiều mô-đun nên có nhãn ở hai phía chữ T. Khi thay thiết bị, kỹ thuật viên biết hướng chia nào được cô lập và không xoay nhầm ốc của cụm máy đang giữ nguyên.
Đặt T phi 12 gần mép cụm máy có thể dễ tiếp cận hơn, nhưng cần tránh để ống dẫn tạo cần đòn dài. Một kẹp đỡ sau đoạn uốn thường hữu ích hơn việc khóa ốc mạnh.
So với phi 10, quyết định không dựa trên cảm giác cần nhiều lưu lượng hơn; phải bám theo thiết kế và đường kính ngoài thực. Đổi cỡ làm thay cả vật tư và bố trí.
Khi theo dõi sau vận hành, so sánh tư thế ba ống dẫn với ảnh nghiệm thu. Thay đổi góc vào là dấu hiệu nên đối chiếu giá đỡ trước khi xử lý cụm khóa ốc.
Bộ phụ tùng phi 12 cần được tách khay khỏi phi 10 và phi 14. Nhãn rõ giúp tránh lắp nhầm hạt bắp có hình dáng gần giống dẫn khi bảo trì gấp.