-
-
-
Tổng tiền thanh toán:
-
Đầu nối Inox 304 dạng chữ T có 3 đầu hoàn thiện ốc hạt bắp đoạn ống phi 10, mã hàng PEISHB-10, phù hợp nhất khi cần đấu đường rẽ gần van và cơ cấu chấp hành. Ba cửa cùng cỡ giúp chia cụm van mà không tạo bước chuyển đường kính ngay tại thân chữ T. Quyết định chọn phải bắt đầu từ đường kính ngoài của cả ba đoạn đoạn ống, không dựa vào đường kính trong hay ước lượng bằng mắt.
Với cấu hình phi 10, câu hỏi trọng tâm không chỉ là “có lắp vừa hay không” mà là ba đường rẽ sẽ phục vụ nhiệm vụ nào. đặt đường rẽ vuông góc tránh kéo lệch cụm van. Nếu một đường rẽ thực tế cần cỡ khác, đầu T đều không phải lựa chọn tối ưu; khi đó nên xem nhóm T giảm thay vì chèn nhiều tầng chuyển cỡ.
Cỡ 10 mm nên được xác nhận bằng thước đo trên mặt ngoài đoạn ống tại vùng không bị méo. Đo thêm một vị trí cách đầu cắt để loại trừ sai số do bẹp miệng. Cả ba kết quả phải phù hợp với phi 10; chỉ một đường rẽ khác cỡ cũng đủ làm phương án lắp sai về cấu hình.
Tại vị trí đấu đường rẽ gần van và cơ cấu chấp hành, thân chữ T cần được đặt sao cho đoạn ống đi vào từng cửa theo đường tâm. đặt đường rẽ vuông góc tránh kéo lệch cụm van. Cách bố trí này hạn chế lực ngang truyền vào vùng hạt bắp, đặc biệt khi đoạn ống dài, có khối lượng hoặc bị kéo bởi bó dây bên cạnh.
Vật liệu được công bố là Inox 304; cụm giữ đoạn ống gồm thân, ốc hoàn thiện ốc và hạt bắp. Cỡ phi biểu thị đường kính ngoài của đoạn ống tương ứng. Nguồn bán hàng xác nhận nhóm dùng với đoạn ống PU, PE, PA và đồng thời mô tả ứng dụng nối đoạn ống Inox, đoạn ống đồng; người mua cần xác nhận đúng loại đoạn ống thực tế trước khi đặt.
Trước khi lắp, tháo rời và sắp đúng thứ tự ốc hoàn thiện ốc, hạt bắp, rồi mới đưa đoạn ống vào thân. Đầu đoạn ống phải sạch, tròn và cắt vuông. Đưa đoạn ống theo phương thẳng, giữ ổn định trong khi bắt ren ốc bằng tay; nếu ốc không vào ren nhẹ nhàng, dừng lại để thử lệch ren thay vì dùng dụng cụ cưỡng bức.
| Tiêu chí | Phi 10 | Cỡ gần nhất |
| Đường kính ngoài đoạn ống cần đối chiếu | 10 mm | phi 8 và phi 12 |
| Khi nên chọn | Ba đường rẽ cùng dùng đoạn ống 10 mm và bố trí cho phép tiếp cận ba ốc | Khi thiết kế thực tế dùng phi 8 và phi 12 hoặc cần thay đổi mức phân phối |
| Khi không nên chọn | Có đường rẽ khác cỡ, đầu đoạn ống méo hoặc vị trí không đủ khoảng thao tác | Không đổi cỡ chỉ để “dễ mua” nếu đoạn ống đang dùng vẫn là phi 10 |
| Điểm thử | Độ thẳng của ba đầu đoạn ống và khả năng đặt điểm đỡ | Ảnh hưởng của việc đổi cỡ lên toàn cụm van |
So với phi 8 và phi 12, phi 10 không mặc nhiên tốt hơn. Cỡ đúng là cỡ trùng với đường kính ngoài đoạn ống và phù hợp bố trí đã thiết kế. Không nên đổi đoạn ống chỉ để tận dụng một đầu nối có sẵn, vì việc đó làm phát sinh thêm chi tiết chuyển tiếp và thay đổi cách đi cụm van.
Thử kín nên tiến hành từng đường rẽ để dễ khoanh vùng. Giữ hai đường rẽ ổn định, thử đường rẽ còn lại ở điều kiện vận hành do đơn vị sử dụng quy định; sau đó đổi vị trí. Quan sát quanh vùng ốc và thân, đồng thời xem đoạn ống có trượt, xoay hoặc lệch tâm hay không. Không đưa ra kết luận chỉ từ việc hoàn thiện ốc thêm ốc.
Nếu có dấu hiệu rò, cô lập hệ thđoạn ống và xả trạng thái tích trữ theo quy trình an toàn tại nơi lắp. Tháo đúng đường rẽ, thử đầu cắt, bề mặt đoạn ống, hạt bắp, ốc và ren thân. Chi tiết móp, nứt, trờn ren hoặc biến dạng cần được thay đúng cỡ; không mài, chèn hoặc quấn vật lạ vào vùng kẹp đoạn ống để che lỗi.
Trong bảo trì phi 10, ghi lại đường rẽ từng tháo và tình trạng hạt bắp. Khi thay đoạn ống, đo lại đường kính ngoài thay vì mặc định cuộn mới giđoạn ống cuộn cũ. Nếu công việc thường xuyên cần tháo đường rẽ, hãy bố trí chiều dài đoạn ống dự phòng hợp lý để không phải kéo thân chữ T hoặc bẻ gập đoạn ống mỗi lần thao tác.
Phải đo đường kính ngoài trên cả ba đường rẽ. Nếu chỉ hai đường rẽ là 10 mm, hãy chuyển sang phương án T giảm phù hợp thay vì ép đường rẽ còn lại vào cùng bộ hoàn thiện ốc.
Cần thử bằng bố trí thực, tính cả bán kính uốn của đoạn ống và hành trình dụng cụ. Khoảng trđoạn ống nhìn thấy chưa chắc đủ để tháo lắp sau này.
Không chọn khi một đường rẽ khác cỡ, đoạn ống không thuộc loại đã được người bán xác nhận, đầu đoạn ống biến dạng, hoặc cụm T sẽ phải gánh tải cơ học từ đường đoạn ống. Với môi chất và điều kiện đặc biệt, cần xác nhận lại khả năng tương thích trước khi mua.
Cụm phi 10 đặt gần van cần được bố trí sao cho thao tác van không truyền mô-men sang chữ T. Dùng giá đỡ riêng cho van hoặc đoạn ống, tùy kết cấu thực tế.
Lắp từ phía thiết bị ra ngoài giúp kiểm soát vị trí đầu tiên, sau đó mới cắt hai đường rẽ còn lại theo đường tâm đã xác định. Cách này hạn chế phải kéo đoạn ống để bù sai số.
Trước phép thử, ghi trạng thái đóng mở của van và xác định đường rẽ nào đang được cô lập. Một kết quả không rò khi van đóng chưa chứng minh vùng phía sau van đã được thử.
Phi 10 dễ bị nhầm với cỡ gần nếu chỉ nhìn bằng mắt. Dùng dụng cụ đo trên đường kính ngoài, không lấy số đo phần đầu đã bị hạt bắp cũ ép.
Nếu cơ cấu chấp hành rung theo chu kỳ, quan sát chuyển động tương đối giữa van, đoạn ống và thân T. Điều cần sửa có thể là gá thiết bị chứ không phải cụm nối.
Khi cần tháo van, thiết kế nên cho phép giữ nguyên ít nhất hai đường rẽ của T phi 10. Điều này giảm số vùng kẹp phải tái lập và thử.